Tiền kỹ thuật số -  "Vịnh tránh bão” mới của các nhà đầu tư, góc nhìn từ khủng hoảng tài chính 2008.

Ngày: 05/07/2017 lúc 18:55PM

TIỀN KỸ THUẬT SỐ - VỊNH "TRÁNH BÃO" MỚI CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ, GÓC NHÌN TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008.

Đã gần 10 năm sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 nhưng những bài học mà nó để lại vẫn còn đầy ám ảnh. Đây là đợt suy thoái kinh tế tồi tệ nhất kể từ Đại Khủng Hoảng 1929-1933. Hậu quả cuộc khủng hoảng rất sâu sắc và đa dạng, một trong số đó là sự xói mòn nghiêm trọng niềm tin của người dân cũng như giới đầu tư đối với các định chế tài chính và sự điều tiết kinh tế của các chính phủ. Cùng thời gian này, ngay trong tâm bão, một đồng tiền mới đã ra đời – Bitcoin, mở đầu cho kỷ nguyên của các đồng tiền kỹ thuật số với những tiến bộ vượt bậc so với tiền tệ truyền thống. Gía trị của Bitcoin và tiền kỹ thuật số đã gia tăng hàng trăm nghìn lần, nhiều hơn bất kỳ loại hình đầu tư nào trên thế giới. Nhiều chuyên gia nhận định giá của nó sẽ còn tiếp tục tăng để vượt qua vàng trở thành phương tiện dự trữ hàng đầu của thế giới. Những phân tích sau đây ở góc nhìn từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008 hi vọng sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn đa chiều hơn về tiềm năng của tiền kỹ thuật số.

KỲ 1: NGUYÊN NHÂN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG VÀ THIỆT HẠI CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ

> Kỳ 2: Sự tắc trách của chính phủ và ngân hàng trung ương trong cảnh báo và đối phó với khủng hoảng

> Kỳ 3: Tiền kỹ thuật số - Giải pháp đến từ " Tâm bão "

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, một trong số đó bắt nguồn từ “bong bóng nhà đất” Mỹ, hay còn gọi là khủng hoảng cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn. Trong lĩnh vực bất động sản, phần lớn nguồn vốn của các dự án đều trông cậy vào các ngân hàng.Từ sau sự đổ vỡ của “bong bóng Dotcom”, để chống lại suy thoái và tạo động lực cho nền kinh tế, Cơ quan dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã liên tục cắt giảm lãi suất cho vay. Điều này cộng với mức tín dụng dồi dào từ các ngân hàng đã kích thích sự phát triển của khu vực bất động sản và xây dựng. Theo truyền thống, để đảm bảo việc lấy lại tiền, các ngân hàng thường giới hạn vốn vay mua nhà theo hệ số nhân khá nhỏ của thu nhập sau thuế, kèm theo những yêu cầu chi tiết về bằng chứng thu nhập, tính ổn định của công ăn việc làm, lịch sử tín dụng… Tuy nhiên, trong giai đoạn 2001-2006, các tổ chức tín dụng đã thực hiện cho vay thế chấp khối lượng lớn với một cách dễ dãi cho cả những người có thu nhập thấp và không ổn định (cho vay dưới chuẩn). Hệ quả của điều này dẫn đến sự đầu cơ ồ ạt vào thị trường nhà đất, đẩy giá bất động sản tăng vọt và hình thành “bong bóng” bất động sản. Khi giá nhà đất bắt đầu giảm vào năm 2005 - 2006, hàng ngàn người đầu cơ không bán được nhà hoặc thua lỗ tuyên bố vỡ nợ. Nhiều tổ chức tín dụng trở nên chao đảo vì số sợ không thu hồi được quá lớn. Ngày 8/2/2007, HSBC công bố tỷ lệ nợ xấu 2006 tăng lên 20%, lúc đó nhiều người mới biết được cụm từ “tín dụng dưới chuẩn” là gì. Ngày 2/4/2007, tập đoàn tài chính New Century khi đó là hãng cho vay dưới chuẩn lớn nhất nước Mỹ đệ đơn xin phá sản. Tiếp theo đó là hàng loạt những vụ công bố thua lỗ kỷ lục và bán tháo tài sản của các ngân hàng như Bear Stearns, Merril Lynch, đỉnh điểm có thể kể đến đó là vụ phá sản lớn nhất thế giới của Lehman Brothers – ngân hàng đầu tư hàng đầu Mỹ (14/09/2008) và việc FED phải chi tới 85 tỷ USD để cứu hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG khỏi nguy cơ phá sản. Những điều tưởng chừng không bao giờ có thể xảy ra, đã xảy ra.

Bong bóng Bất động sản nổ tung là khởi đầu cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào 2008

Không chỉ dừng lại ở đó, cuộc khủng hoảng tiếp tục lây lan qua thị trường chứng khoán, đặc biệt là chứng khoán ngân hàng. Hàng triệu hộ gia đình mất nhà vì bị siết nợ, người dân mất việc làm và cắt giảm chi tiêu, điều này kéo theo hàng loạt các ngành khác trở nên chao đảo, ví dụ ngành ô tô, xây dựng và tiêu dùng khi không tiêu thụ được hàng hóa, buộc phải đóng của, sa thải lao động… Hiệu ứng dây chuyền này đã khiến chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm đến 20% trong vòng 6 tuần lễ chỉ còn 6.54705 mức thấp nhất kể từ tháng 4 năm 1997, nền kinh tế Mỹ nói riêng và kinh tế toàn cầu nói chung trở nên tồi tệ hơn bao giờ hết.

Khi phân tích về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng, một câu hỏi được đặt ra: tại sao các ngân hàng có thể phá bỏ nguyên tắc và cho vay dễ dàng như vậy? Chúng ta biết rằng, ngân hàng thương mại của các địa phương thừa sức biết thông tin về khách hàng của mình để quyết định ai có nhiều hay ít khả năng trả nợ. Câu trả lời là sở dĩ họ không đòi hỏi quá nhiều điều kiện và thủ tục đối với các khoản vay bởi vì họ không phải là người trực tiếp chịu rủi ro nếu các khách hàng của mình không trả tiền, bởi vì họ sẽ bán lại khoản nợ này cho các ngân hàng đầu tư. Các bạn hãy chú ý tới 2 chủ thể,  một là ngân hàng thương mai và hai là ngân hàng đầu tư. Tất cả xuất phát từ cái gọi là hợp đồng chứng khoán hóa. Các ngân hàng thương mai thực hiện “cho vay dưới chuẩn”, sau đó bán các khoản nợ này cho các ngân hàng đầu tư. Sau đó các ngân hàng đầu tư sẽ tiến hành chứng khoán hóa các khoản vay này, đóng gói lại thành các khoản CDO (nghĩa vụ nợ được thế chấp hóa), và tiếp tục bán CDO lại cho các nhà đầu tư như một loại chứng khoán để thu lợi nhuận. Biện pháp này ban đầu được xem là phát minh vì nó được kỳ vọng chia nhỏ rủi ro từ một tổ chức sang nhiều tổ chức, hoặc cả cộng đồng vì họ tin rằng, không thể có chuyện bất động sản toàn nước Mỹ đồng loạt giảm giá (vì giá bất động sản thường mỗi nơi một đặc điểm), và do đó có thể hạn chế rủi ro. Tuy nhiên, quả thực là “bong bóng” nhà đất đã vỡ trên toàn nước Mỹ, do đó việc “hạn chế rủi ro” đã biến thành “phát tán rủi ro” trên diện rộng, và hậu quả nặng nề nhất thuộc về các ngân hàng đầu tư, và những nhà đầu tư đã đi mua loại tài sản phái sinh này.

Thị trường tài chính toàn cầu lao dốc với sự sụp đổ của rất nhiều ngân hàng, tập đoàn lớn

Vậy một câu hỏi khác đặt ra, tại sao các nhà đầu tư lại khao khát và mua nhiều CDO đến vậy? Câu trả lời tiếp tục dẫn chúng ta đến với một sự vô trách nhiệm và lừa dối khác. Lần này đến từ các tổ chức xếp hạng. Các tổ chức xếp hạng sẽ đánh giá đâu là khoản đầu tư có mức an toàn cao, mục đích của họ là tư vấn cho các ngân hàng đầu tư và giới đầu tư để thu tiền. Do đó họ cũng không có động cơ trực tiếp để đưa ra các yêu cầu “làm khó” cho CDO, và hầu như 90% CDO bất động sản lúc bấy giờ được xếp hạng AAA, với mức tín nhiệm rất cao và được xem là hướng đầu tư an toàn. Và doanh thu của hãng xếp hạng tín dụng Moodys đã tăng gấp đôi từ năm 2002 đến 2006!!!

Tóm lại, không có bên nào trong các định chế và tổ chức trên thể hiện trách nhiệm trong việc giám sát chất lượng của vốn vay. Ngân hàng thương mại phát hành không quan tâm, vì họ sẽ bán khoản vay cho ngân hàng đầu tư và chuyển rủi ro đến cho người khác. Ngân hàng đầu tư cũng không có động lực để làm điều này vì họ sẽ đóng gói các khoản vay thành CDO để bán cho nhà đầu tư và với niềm tin không bao giờ có chuyện “vỡ bong bóng” trên toàn nước Mỹ, nên họ đã không thể kiềm hãm lòng tham của mình. Các tổ chức xếp hạng lại càng không quan tâm vì điều họ quan tâm lúc bấy giờ là lợi nhuận mà các ngân hàng đầu tư trả cho họ sẽ càng gia tăng nếu lượng CDO bán ra thị trường càng nhiều. Từ đây, các nhà đầu tư ở nơi khác mua CDO mà không hề biết gì về các khoản nợ họ đang mua, lòng tin họ đã đặt hết vào kinh nghiệm của các ngân hàng đầu tư và bảng xếp hạng tín nhiệm của Moody’s và S&P.

Có thể nói rằng không phải là thị trường nhà đất mà chính lòng tham và sự vô trách nhiệm mang của cả một hệ thống tài chính mới là cội rễ đã gây ra thảm họa kinh tế 2008 và gây thiệt hại to lớn và làm xói mòn nghiêm trọng lòng tin của giới đầu tư.

Đón đọc kỳ sau, chúng tôi sẽ tiếp tục phân tích vai trò của các chính phủ và ngân hàng nhà nước trong cuộc khủng hoảng này. Cũng như giới thiệu một công cụ mới, được xem là “vịnh trú ẩn” mới của giới đầu tư – Tiền kỹ thuật số.

Còn tiếp


>> Bài học đầu tư: Bong bóng Dotcom và những dòng tiền dễ dãi

Lizzie Tran (BCA)
BÌNH LUẬN
Tin cùng chuyên mục